Bệnh ung thư gan là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp, bệnh có xu hướng trẻ hóa và có tỷ lệ tử vong cao. Bệnh tiến triển khá âm thầm trong giai đoạn sớm nên người bệnh thường bỏ lỡ cơ hội điều trị tốt.

Ung thư gan
Ung thư gan

Bệnh ung thư gan

Ung thư gan là tình trạng các khối u ác tính phát sinh trong gan, dẫn đến việc sẽ phá hủy các tế bào gan và cản trở khả năng hoạt động bình thường của cơ quan quan trọng này.

Ung thư ở gan có hai loại chính:

  • Ung thư gan nguyên phát: hình thành từ chính các tế bào trong gan.
  • Ung thư gan di căn: phát triển khi các tế bào ung thư từ cơ quan khác di căn đến gan như ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư vú…

Ung thư gan nguyên phát

Những tế bào ung thư ở gan nguyên phát tăng tưởng từ các bộ phận của nhu mô gan, có thể kể đến gồm:

  • Ung thư tế bào gan (HCC).
  • Ung thư hỗn hợp (Cholangio hepatocarcinoma).
  • Ung thư ở gan xơ dẹt.
  • Ung thư tế bào đường mật ở gan.

Những khối u gan tăng trưởng từ trung mô thường ít bắt gặp, như các khối:

  • U nguyên bào gan.
  • U mạch máu.
  • U cơ vân.
  • U cơ trơn.

Ung thư gan di căn

Trong các khối u ác tính, có đến 40% di căn đến gan, trong đó các khối nguyên phát có đến 95% thuộc hệ thống vùng lấy máu của ruột non, dạ dày, đường mật, tụy và đại tràng. Ngoài ra, các tế bào ung thư nguyên phát có thể gồm tiết niệu, bộ phận sinh dục, vùng tuyến giáp, vú, phổi. Những tế bào ung thư di căn có thể hình thành trên nền gan khỏe mạnh từ đó hình thành nên những khối u mới tăng dần về kích thước và số lượng.

Một vài thể đặc biệt thường thấy:

  • Di căn ung thư thể nang tương tự áp xe hoặc nang gan. Trường hợp này thường bắt gặp ở di căn ung thư hắc tố, cơ trơn, nhầy và có thể cặn lắng động đến mức dịch – dịch.
  • Di căn thể vôi hóa: ở buồng trứng hoặc đại tràng thường xuất hiện tình trạng các vôi hóa nhỏ hay gặp ung thư dạng dịch nhầy.
  • Di căn giàu mạch máu: thường bắt gặp ở những bệnh nhân có khối u nội tiết (tụy, u carcinoid, vỏ thượng thận), ung thư thận hay tế bào rau thai.
  • Di căn thể thâm nhiễm lan tỏa: thương tổn có cấu trúc khó xác định, lan tỏa dạng bè thường bắt gặp ở bệnh nhân mắc ung thư ở thận.
  • Di căn bạch huyết: dựa theo tĩnh mạch cửa thương tổn được chia thành nhiều nhánh.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh ung thư gan đến nay vẫn chưa được xác định rõ. Tuy nhiên, một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh như giới tính (thường gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới), những người mắc bệnh gan mãn tính (xơ gan), gan nhiễm mỡ, viêm gan B, viêm gan C, béo phì, nhiễm độc tố aflatoxin do nấm mốc….

Ngoài ra, nguyên nhân gây ung thư gan có thể liên quan đến các yếu tố môi trường, chế độ ăn uống lạm dụng rượu bia, thuốc lá….

Nếu dùng quá nhiều thuốc tránh thai quá nhiều và liên tục cũng có thể dẫn đến ung thư ở gan. Bởi loại thuốc này có thể tạo nên u tuyến (Adenoma) trong gan nếu dùng kéo dài, dễ dẫn đến khối u ở biểu mô tế bào gan.

Hoạt chất Aflatoxin có mặt trong một số loại thực phẩm như đỗ, lạc bị mốc cũng là một trong nguyên do gây ra tình trạng gan có khối u.

Vàng da, vàng mắt là một dấu hiệu của bệnh cần đi khám ngay

Ai có nguy cơ mắc bệnh ung thư gan?

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh phát bao gồm:

  • Nhiễm HBV hoặc HCV mạn tính: Nhiễm virus viêm gan B (HBV) hoặc virus viêm gan C (HCV) mạn tính.
  • Xơ gan: Tình trạng xơ gan tiến triển và không thể phục hồi khiến mô sẹo hình thành trong gan.
  • Một số bệnh gan di truyền: Các bệnh về gan có thể làm tăng nguy cơ ung thư gan bao gồm bệnh ứ sắt (Hemochromatosis) và bệnh Wilson (bệnh rối loạn chuyển hóa đồng).
  • Bệnh đái tháo đường: Những người mắc chứng rối loạn đường huyết này có nguy cơ mắc ung thư gan cao hơn so với người không mắc bệnh.
  • Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu: Sự tích tụ chất béo trong gan là nguyên nhân làm tăng nguy cơ ung thư gan.
  • Tiếp xúc với aflatoxin: Aflatoxin là chất độc do nấm mốc sinh ra trên cây trồng được bảo quản kém. Cây trồng, chẳng hạn như ngũ cốc và các loại hạt, có thể bị nhiễm độc tố aflatoxin. Kết quả là, các loại thực phẩm làm từ chúng trở thành mầm bệnh nguy hiểm cho gan.
  • Uống rượu quá mức: Tiêu thụ nhiều hơn lượng rượu được cho phép trong nhiều năm có thể dẫn đến tổn thương gan không thể phục hồi, làm tăng nguy cơ ung thư gan.

Những dấu hiệu của bệnh

Hầu hết mọi người đều không xuất hiện dấu hiệu và triệu chứng trong giai đoạn đầu của ung thư gan nguyên phát.

Các dấu hiệu khi thăm khám:

  • Gan to, trong 25% các trường hợp bờ gan dưới bờ sườn có thể được sờ thấy với mật độ mềm.
  • Khối khu trú: hiếm khi sờ được khối khu trú tại vùng gan.

Các dấu hiệu rõ ràng thường đến ở giai đoạn muộn như:

  • Vàng da: Đây là biểu hiện thường xuất hiện nhất, dễ thấy rõ khi tiếp xúc trực tiếp với ánh mặt trời. Vàng da là kết quả của việc đường mật bị tắc nghẽn do khối u gây ra. Muối mật từ trong đường mật trào ngược vào các xoang gan, di chuyển vào máu và tích tụ dưới da. Triệu chứng vàng da đôi khi còn kèm theo biểu hiện khác như nước tiểu đậm màu hơn và phân trở nên bạc màu.
  • Mắt vàng: Có màu vàng sậm ở củng mạc mắt, biểu hiện này có thể xuất hiện đồng thời hoặc trước lúc bị vàng da.
  • Ngứa: Đây là triệu chứng xuất hiện cùng lúc với vàng da, tuy nhiên ở một số bệnh nhân lại có trước khi da bị vàng. Cơn ngứa thường bộc phát nặng khi về đêm và đa số không có loại thuốc điều trị nào có thể đáp ứng. Tình trạng ngứa là do acid mật tích tụ dưới da, khiến các thụ thể thần kinh cảm giác bị kích thích.
  • Sụt cân: Tại thời điểm chẩn đoán, có đến 30 – 50% bệnh nhân bị sụt cân. Đây là hậu quả của việc ăn không tiêu, chán ăn, chướng bụng, tiêu hóa rối loạn do không có dịch mật được đẩy xuống ruột.
  • Đau bụng: Ở giai đoạn đầu, người bệnh thường thấy đau bụng ở vùng gan, cơn đau không rõ ràng, khá mơ hồ. Việc đau bụng dữ dội và nhiều lần có thể do hậu quả của tắc mật.

Ung thư gan có nguy hiểm không?

Bệnh ung thư gan nguy hiểm ở chỗ nó có thể dẫn đến một số biến chứng. Dễ nhận thấy nhất là tình trạng khối u gây tắc ống mật, tổn thương tế bào gan, làm rối loạn chức năng gan dẫn đến tích tụ chất độc trong cơ thể và các biến chứng khác.

Bệnh nhân ung thư gan có thể gặp các biến chứng như:

  • Suy gan: gan bị tổn thương, không còn đảm bảo chức năng, dẫn tới suy gan. Tình trạng này xảy ra khi các tế bào gan bị tổn thương nhiều.
  • Suy thận: khi chức năng gan hoạt động kém, thận sẽ phải làm việc nhiều hơn để lọc độc tố cho cơ thể và lâu dài có thể dẫn tới suy thận. Thận bị suy làm giảm khả năng lọc và bài tiết nước tiểu, dẫn tới tình trạng tích lũy các chất độc hại trong cơ thể, gây nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân.
  • Di căn: là biến chứng đáng sợ nhất của ung thư gan. Tế bào ung thư từ gan sẽ di căn tới những cơ quan khác trên cơ thể. Việc điều trị ở giai đoạn di căn hầu như không thể chữa khỏi, chỉ nhằm mục đích kéo dài sự sống và giảm bớt triệu chứng khó chịu cho bệnh nhân.

Ung thư gan sống đc bao lâu?

Thời gian sống của bệnh nhân ung thư gan chủ yếu phụ thuộc vào thời điểm phát hiện bệnh. Cụ thể là:

Ung thư gan giai đoạn 1

Là giai đoạn sớm của bệnh, khối u vẫn khu trú trong gan, chưa lây lan tới các hạch bạch huyết và các cơ quan khác trên cơ thể.

Nếu được điều trị tích cực ở giai đoạn này, kết hợp với sự chăm sóc thể chất, tinh thần tốt thì cơ hội sống trên 5 năm của bệnh nhân là khoảng 31%.

Ung thư gan giai đoạn 2

Hiện có khoảng 30% bệnh nhân ung thư gan có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn này. Lúc này, khối u đã xâm lấn vào các mạch máu, lan tới nhiều mô trong gan, kích thước khối u khoảng 5cm nhưng vẫn chưa lây lan tới các hạch bạch huyết và các cơ quan lân cận.

Bệnh nhân được điều trị tích cực cùng chế độ ăn uống, tập luyện khoa học có tỷ lệ sống thêm sau 5 năm là khoảng 19%.

Ung thư gan giai đoạn 3

Gồm 3 giai đoạn nhỏ là: 3A (có thể trên 1 khối u, khối u có kích thước tối thiểu 5cm, chưa xâm lấn tới các hạch bạch huyết và cơ quan xung quanh), 3B (có tế bào ung thư xâm lấn tới tĩnh mạch gan nhưng chưa lây lan tới các hạch bạch huyết và bộ phận lân cận) và 3C (tế bào ung thư lây lan sang các cơ quan lân cận như túi mật nhưng chưa xâm lấn các cơ quan ở xa).

Những phương pháp điều trị được áp dụng phổ biến trong giai đoạn này là xạ trị, hóa trị, phẫu thuật hoặc nút mạch. Cơ hội sống trên 5 năm của bệnh nhân ung thư gan giai đoạn 3 ở khoảng 11%.

Ung thư gan giai đoạn 4

Là giai đoạn tế bào ác tính ở gan đã xâm lấn tới các hạch bạch huyết và một số cơ quan trên cơ thể như phổi, xương, đại tràng, não,… 

Phương pháp điều trị cho người bệnh ung thư gan giai đoạn 4 chủ yếu là hóa trị hoặc kết hợp hóa trị với xạ trị để giảm tác dụng phụ và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân. Thời gian sống trên 5 năm của người bệnh ung thư gan giai đoạn 4 chỉ còn 3%.

Thăm khám và điều trị sớm khi có các triệu chứng của bệnh

Các phương pháp điều trị bệnh ung thư gan

Việc điều trị ung thư gan bằng phương pháp nào sẽ do bác sĩ cân nhắc dựa trên các yếu tố:

  • Số lượng, kích thước và vị trí của các khối u trong gan;
  • Chức năng gan;
  • Có bị xơ gan hay không;
  • Khối u có di căn đến hạch hoặc các cơ quan khác không.

Các phương pháp phổ biến dùng để điều trị ung thư gan bao gồm:

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt gan được thực hiện để loại bỏ phần gan có khối u. Phương pháp này thường được thực hiện khi tế bào ung thư chỉ giới hạn trong gan. Theo thời gian, phần mô gan khỏe mạnh còn lại sẽ phì đại lên và thay thế phần bị cắt bỏ.

Ghép gan

Một phần hoặc toàn bộ lá gan mang khối u gan sẽ được thay thế bằng phần gan khỏe mạnh từ người hiến tặng. Việc cấy ghép chỉ được tiến hành nếu ung thư chưa di căn sang các cơ quan khác. Sau phẫu thuật, người bệnh cần uống thuốc để phòng chống đào thải.

Tiêm ethanol vào khối u gan

Đối với phương pháp này, sau khi gây tê cho người bệnh, bác sĩ sẽ tiêm cồn tuyệt đối (ethanol) vào khối u gan có kích thước nhỏ hơn 3cm dưới hướng dẫn của siêu âm để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Đốt sóng cao tần u gan

Bác sĩ sẽ đưa một kim dẫn sóng cao tần vào khối u gan qua thành bụng dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc trong mổ để đốt các khối u gan có kích thước nhỏ hơn 3cm.

Nút mạch hóa chất

Đây là phương pháp điều trị phổ biến cho các bệnh nhân ung thư gan. Khối u gan được nuôi bằng động mạch gan. Dưới máy chụp số hóa xóa nền (DSA), bác sĩ đưa một ống thông qua động mạch đùi đến động mạch nuôi khối u gan, bơm hóa chất gắn hạt cầu vào khối u và nút tắc mạch máu này. Các tế bào u bị tiêu diệt do bị cắt nguồn máu tới nuôi và tác động của thuốc hóa chất.

Nút mạch phóng xạ (còn gọi là xạ trị trong chọn lọc)

Đây là phương pháp bơm trực tiếp các hạt vi cầu phóng xạ Y-90 (Yttrium 90) vào nhánh động mạch nuôi khối u gan. Các hạt vi cầu phóng xạ này gây tắc các vi mạch trong khối u và phát tia bức xạ tiêu diệt tế bào ung thư.

Xạ trị ngoài

Xạ trị là phương pháp sử dụng chùm tia bức xạ năng lượng cao chiếu vào khối u để tiêu diệt tế bào ung thư.

Ở những người bệnh có khối u lớn, xâm lấn mạch máu hoặc di căn xa, các khối u tái phát sau phẫu thuật hoặc thất bại với các phương pháp điều trị khác, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị toàn thân bằng thuốc hóa chất truyền tĩnh mạch, thuốc điều trị đích đường uống hoặc đường truyền, thuốc miễn dịch truyền tĩnh mạch. Phương pháp này giúp làm giảm sự phát triển của khối u và di căn.

Chăm sóc giảm nhẹ

Là các biện pháp can thiệp y tế giúp giảm các biến chứng của bệnh ung thư: giảm đau, truyền đạm nâng cao thể trạng…

Cách tốt nhất để phòng ngừa, phát hiện ung thư gan là khám sức khỏe định kỳ siêu âm gan 6 tháng/lần, đặc biệt là những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao như xơ gan, viêm gan mạn tính do rượu, viêm gan virus B, C,…. Ngoài ra tiêm đầy đủ vacxin phòng viêm gan B, tránh tiếp xúc với các hóa chất độc hại dễ làm tổn thương gan để giảm nguy cơ mắc bệnh.