Bệnh tâm thần là tình trạng sức khỏe tinh thần có liên quan đến những thay đổi về cảm xúc, tính cách và hành vi. Tình trạng này có mối mật thiết với những vấn đề trong các hoạt động xã hội, công việc và gia đình, đem lại nhiều gánh nặng cho gia đình bệnh nhân cũng như xã hội.

Các bệnh tâm thần thường gặp
Các bệnh về tâm thần gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của bạn

Bệnh tâm thần là gì?

Bệnh tâm thần (rối loạn sức khỏe tâm thần) đề cập đến các tình trạng sức khỏe tâm thần như: rối loạn ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ và hành vi của một người. Bệnh tâm thần bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, rối loạn ăn uống và hành vi gây nghiện.

Tình trạng này có mối liên hệ mật thiết với những vấn đề trong các hoạt động xã hội, công việc hoặc gia đình. Theo thống kê của Viện sức khỏe tâm thần Trung ương thì tỷ lệ người Việt Nam có khả năng mắc bệnh tâm thần một lần trong đời lên tới 15-20%.

Bệnh tâm thần có thể khiến người bệnh cảm thấy đau khổ hoặc có thể gây ra các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày như ở nơi làm việc hoặc trong các mối quan hệ. Hầu hết các trường hợp với các triệu chứng của bệnh có thể được kiểm soát bằng sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp nói chuyện (tâm lý trị liệu).

Nguyên nhân gây bệnh tâm thần

Bệnh tâm thần được cho là gây ra bởi một loạt các yếu tố như:

  • Bệnh tâm thần phổ biến hơn ở những người có cùng huyết thống cũng bị bệnh tâm thần. Một số gen nhất định có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần và đôi khi tình trạng cuộc sống cũng có thể là yếu tố kích hoạt nó.
  • Trong quá trình mang thai luôn tiếp xúc với các tác nhân gây stress từ môi trường, tình trạng viêm, độc tố, rượu hoặc ma túy cũng có thể liên quan đến bệnh tâm thần.
  • Chất dẫn truyền thần kinh là hóa chất não xuất hiện tự nhiên mang tín hiệu từ não đến các bộ phận khác của cơ thể. Khi các mạng lưới thần kinh liên quan đến các hóa chất này bị suy yếu, chức năng của các thụ thể thần kinh và hệ thống thần kinh thay đổi, dẫn đến trầm cảm và các rối loạn cảm xúc khác.
  • Do tổn thương trực tiếp tại não: Viêm não, viêm màng não,…
  • Nhiễm độc thần kinh do thuốc ngủ, do rượu
  • Chấn thương sọ não
  • Những bệnh ở não: U não, tai biến mạch máu não, áp xe não,…
  • Những bệnh ảnh hưởng đến hoạt động của não: cường giáp, nhược giáp, suy thận mãn tính,…
  • Nguyên nhân tâm lý: Áp lực công việc, học tập,…

Những dấu hiệu của bệnh

Những dấu hiệu cảnh báo bệnh tâm thần:

  • Lo âu, buồn bã quá mức hoặc trong thời gian dài.
  • Tính tình có sự thay đổi bất thường, rõ rệt.
  • Cảm xúc thay đổi nhanh chóng.
  • Tâm lý có sự thù địch hoặc giận dữ quá mức.
  • Thường thụ động, trì hoãn trước các vấn đề trong cuộc sống.
  • Có những ý tưởng xa lạ hoặc tự cao.
  • Thói quen ăn, ngủ cũng bị thay đổi.
  • Một số người có hành vi nghiện rượu, nghiện ma túy.
  • Nghĩ đến việc tự tử.

Những bệnh tâm thần thường gặp

Trầm cảm

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, xuất hiện với nhiều triệu chứng và hay gặp nhất đó là sự buồn bã một cách sâu sắc. Một số triệu chứng khác bao gồm: sụt cân. mất ngủ, dễ tức giận, khó khăn khi suy nghĩ. mất tập trung, cảm thấy tội lỗi, vô giá trị,…

Người mắc chứng trầm cảm luôn cảm thấy mất hy vọng, mệt mỏi, không có gì khiến bệnh nhân hứng thú và thường suy nghĩ đến cái chết. Bệnh trầm cảm có thể gặp ở mọi lứa tuổi từ 24-44 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống ở nữ giới là 25% và nam giới là 10%.

Rối loạn lo âu

Những người bị rối loạn lo âu thường phản ứng với một số đối tượng hoặc tình huống bằng cách sợ hãi, cũng như với các dấu hiệu thể chất của sự lo lắng, hoảng loạn chẳng hạn như nhịp tim nhanh và đổ mồ hôi.

Rối loạn lo âu được chẩn đoán nếu phản ứng của người đó không phù hợp với tình huống thực tại, hoặc nếu người đó không thể kiểm soát được phản ứng của bản thân cũng như sự lo lắng quá mức khiến cản trở các hoạt động bình thường.

Tâm thần phân liệt

Bệnh tâm thần phân liệt là một trong những loại bệnh tâm thần nặng, tỷ lệ mắc bệnh là 1/100. Bệnh thường xuất hiện khi còn trẻ và có thể kéo dài hết cả cuộc đời. Bệnh tâm thần phân liệt có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần, nếu bệnh kéo dài không thuyên giảm có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân.

Những triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt bao gồm: hoang tưởng, ảo thanh, rối loạn khả năng suy nghĩ, giảm sự biểu lộ tình cảm và cách ly xã hội.

Những triệu chứng cấp tính có thể khởi phát nhanh và xuất hiện trong vài tuần, sau đó chậm dần trong nhiều tháng nhiều năm. Bệnh nhân trong thời gian bị bệnh thường trở nên xa lánh mọi người, ít nói chuyện với những người thân và trở lên trầm tư, lo lắng, sợ hãi,…

Rối loạn lưỡng cực

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một rối loạn mà cảm xúc của người bệnh thường thay đổi từ giai đoạn trầm cảm sang hưng phấn hoặc ngược lại. Cũng có những lúc khí sắc bệnh nhân bình thường. Những triệu chứng trong giai đoạn trầm cảm giống với chứng rối loạn trầm cảm. Đối với giai đoạn hưng phấn, người bệnh thường vui vẻ quá mức, cảm giác mình là nhất, tăng hoạt động và hoang tưởng tự cao. Những hành vi nguy cơ cao như tiêu tiền hoang phí, lái xe không cẩn thận,… không kiểm soát được những hành động, nhịp độ suy nghĩ hoặc nói chuyện và dễ lên cơn giận dữ bất ngờ.

Rối loạn kiểm soát bốc đồng và nghiện

Những người bị rối loạn kiểm soát bốc đồng không thể chống lại được và thường thực hiện các hành vi có hại cho bản thân hoặc người khác. Chứng cuồng phong hỏa, thói ăn cắp vặt, và đánh bài bạc là những ví dụ về chứng rối loạn kiểm soát sự bốc đồng.

Rượu và ma tuý là nguy cơ phổ biến của nghiện. Thông thường, những người mắc chứng rối loạn này trở nên gắn bó với các đối tượng nghiện ngập đến mức họ có thể bỏ qua trách nhiệm và các mối quan hệ khác.

Bệnh cần được điều trị sớm khi phát hiện dấu hiệu bệnh

Rối loạn nhân cách

Những người rối loạn nhân cách có đặc điểm tính cách cực đoan và không linh hoạt, thường gây khó chịu cho chính bản thân hoặc gây ra các vấn đề trong công việc cũng như những mối quan hệ xã hội.

Ngoài ra, lối suy nghĩ và hành vi của người mắc bệnh này thường có hành vi khác biệt so với kỳ vọng của xã hội và cứng nhắc khi tham gia vào các hoạt động bình thường. Ví dụ như rối loạn nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế, rối loạn nhân cách hoang tưởng.

Rối loạn lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa có đặc điểm là bệnh nhân luôn cảm thấy lo âu và căng thẳng quá mức hoặc không thực tế về những vấn đề trong cuộc sống. Bệnh nhân luôn cảm thấy lo sợ như: sợ hết tiền, sợ mình hoặc người thân sắp bị bệnh, bị tai nạn hay gặp chuyện không may. Ngoài ra bệnh nhân thường có cảm giác căng thẳng, bồn chồn, bất an, run, nhức đầu, dễ mệt mỏi, khó tập trung chú ý, khó ngủ,…

Đa số bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa thường kết hợp với những rối loạn tâm thần khác. Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao hơn nam giới gấp 2 lần. Thường chỉ có 1/3 trường hợp đi khám chuyên khoa tâm thần, số còn lại điều trị ở các bác sĩ đa khoa, tim mạch,…

Rối loạn tâm thần do rượu hay ma túy

ối loạn tâm thần do rượu, ma túy là hậu quả của việc làm dụng rượu và các chất gây nghiện. Hiện nay, vấn đề này đang ngày càng nổi bật và khó giải quyết. Những người lạm dụng rượu, ma túy hay các chất gây nghiện khác thường không kiểm soát được hành vi, và họ sẽ cần dùng liên tục mỗi ngày với liều lượng ngày càng cao.

Nếu không sử dụng thì những bệnh nhân này thường không thể làm việc bình thường, kèm theo đó là xuất hiện những triệu chứng khác như:

  • Do rượu: Mạch nhanh, đổ mồ hôi, run tay, kích động, lo âu và co giật,…
  • Do ma túy: Nôn, chảy nước mắt, nước mũi, dựng lông, đau nhức bắp thịt, toát mồ hôi, tiêu chảy, ngáp, giãn đồng tử,…

Khi cho họ sử dụng trở lại rượu hay các chất gây nghiện thì những triệu chứng này sẽ biến mất. Khi thời gian sử dụng lâu, họ có thể mắc thêm nhiều loại rối loạn tâm thần khác như: sa sút tâm thần, rối loạn trí nhớ, loạn thần, rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ,…

Những đối tượng sử dụng rượu và các chất gây nghiện cần được điều trị tại cơ sở chuyên khoa. Việc điều trị cắt cơn tương đối dễ. Tuy nhiên việc điều trị phòng ngừa chống tái phát là một quá trình rất khó khăn.

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế là một loại rối loạn lo âu có thể xuất hiện ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng chủ yếu bắt đầu trong thời kỳ thơ ấu. Bệnh gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống gia đình, xã hội và công việc hay vấn đề học tập của người bệnh. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế có triệu chứng ám ảnh hoặc xung động, một số trường hợp có thể bị cả hai triệu chứng cùng lúc.

  • Ám ảnh: Là các ý nghĩ xuất hiện ngoài ý muốn, lặp đi lặp lại và xâm chiếm toàn bộ suy nghĩ của bệnh nhân. Điều này khiến cho họ luôn cảm thấy lo âu hoặc bực bội. Ví dụ như bệnh nhân có thể có ý nghĩa là tất cả các vi sinh vật, bụi trong không khí có thể gây bệnh. Vì vậy họ rất sợ hãi và lo lắng khi phải đi ra khỏi nhà. Hoặc bệnh nhân luôn nghi ngờ không biết mình đã đóng các cửa sổ và khoá các cửa cái chưa khi đi ra ngoài dù trước đó đã kiểm tra rất cẩn thận.
  • Xung động: Là nhu cầu thúc giục cần phải làm một điều gì đó, thường nhằm mục đích giảm sự lo âu do ám ảnh gây ra. Hành vi xung động thường có tính chất lặp lại nhiều lần, luôn tuân theo một thứ tự nào đó và thường là hành vi có ý thức.

Ám ảnh và xung động đều có nét chung đó là bệnh nhân hiểu rất rõ những điều đó là vô lý và thái quá, họ cũng rất muốn chống lại nhưng lại không thể làm khác đi được. Họ luôn cảm thấy xấu hổ và giấu tất cả mọi người xung quanh về những triệu chứng trên. Tuy nhiên khi bệnh diễn biến nặng thì mọi người xung quanh sẽ nhận ra và khuyên họ đi điều trị.

Rối loạn ám sợ

Rối loạn ám sợ là toàn bộ các phản ứng tâm lý và cơ thể do một đối tượng hay hoàn cảnh gây sợ gây ra. Đối tượng gây sợ có thể là một con vật cụ thể như rắn, nhện, côn trùng,… hoặc là một hoàn cảnh xã hội như khi phải nói chuyện trước đám đông, khi trong thang máy, khi đi trên máy bay hoặc trong xe bus,… Rối loạn ám sợ làm cho bệnh nhân sợ hãi và tránh những công việc có thể gây ra phản ứng sợ hãi, dẫn tới hậu quả làm giảm hiệu suất trong công việc và các mối quan hệ xã hội.

Những đặc điểm của chứng rối loạn ám sợ bao gồm: Cảm thấy một nỗi sợ hãi xảy ra bất ngờ, sợ khi đang ở trong một tình huống không gây hại.

Phản ứng sợ hãi xuất hiện đều là tự động và không thể kiểm soát được. Bệnh nhân hoàn toàn nhận thức rằng nỗi sợ hãi này là quá mức và vô lý.

Ngoài ra, các phản ứng cơ thể sẽ xuất hiện kèm theo như: nhịp tim nhanh, thở hụt hơi hoặc cảm giác nghẹt thở, run rẩy, toát mồ hôi, buồn nôn, cảm giác khó chịu trong bụng, chóng mặt.

Bệnh nhân luôn mong muốn thoát ra khỏi tình huống này. Sau khi thoát khỏi đối tượng hay tình huống gây sợ bệnh nhân sẽ tìm cách tránh né chúng. Khi đó sự tránh né này sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu suất công việc hoặc các mối quan hệ xã hội. Vì vậy bệnh nhân cần phải được khám tâm thần và điều trị.

Thiểu năng trí tuệ

Thiểu năng trí tuệ là một rối loạn khởi phát trong thời kỳ phát triển. Đặc điểm chung của bệnh bao gồm toàn bộ sự phát triển tâm thần đều bị ảnh hưởng, nhưng nổi bật là hoạt động trí tuệ bị trì trệ, kém phát triển hay không phát triển được.

Cùng với đó là giảm khả năng thích nghi như khả năng tự lập, khả năng thực hiện các trách nhiệm của xã hội tương ứng với độ tuổi. Nguyên nhân dẫn tới chậm phát triển trí tuệ rất đa dạng như di truyền, mẹ bị nhiễm trùng hoặc suy dinh dưỡng khi mang thai, sinh non, sinh hút hoặc trẻ bị ngạt lúc sinh, viêm màng não, viêm não, hay sốt cao co giật nhiều lần khi trẻ còn bé…

Tình trạng bệnh diễn tiến mãn tính, và không có giai đoạn thuyên giảm. Tuy nhiên khả năng thích nghi của trẻ có thể được cải thiện nếu trẻ được đi học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ và điều trị tốt các tình trạng bệnh lý kèm theo như động kinh.

Phương pháp điều trị

Điều trị những căn bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần cần có sự kết hợp của y khoa và tâm lý. Đó là sử dụng thuốc kết hợp với liệu pháp tâm lý. Tuy nhiên điều trị như thế nào còn tùy thuộc vào từng trường hợp và cần có sự thăm khám của bác sĩ chuyên khoa Thần Kinh.

Nếu có những dấu hiệu của bệnh tâm lý, hãy nhanh chóng đến cơ sở y tế để được thăm khám. Đừng ngần ngại chia sẻ với bác sĩ những áp lực, khó khăn trong cuộc sống. Nắm được hoàn cảnh, tình trạng bệnh sẽ giúp bác sĩ đưa ra được liệu pháp chữa trị phù hợp.