Bệnh giang mai là một bệnh nhiễm trùng kinh diễn do xoắn khuẩn gây nên, bệnh lây chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn. Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tim, não, mạch máu, hệ thần kinh,… Vậy cách điều trị bệnh giang mai như thế nào?

Điều trị bệnh giang mai
Điều trị bệnh giang mai

Bệnh giang mai

Bệnh giang mai là bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) do một loại vi khuẩn có tên là Treponema pallidum gây ra. Bệnh bắt đầu bằng cơn đau nhưng không gây đau đớn – điển hình là trên bộ phận sinh dục, trực tràng hoặc miệng.

Bệnh giang mai lây từ người này sang người khác qua da hoặc màng nhầy tiếp xúc với các vết loét. Sau khi bị nhiễm trùng, vi khuẩn giang mai có thể ngủ đông một phần trong cơ thể trong nhiều thập kỷ trước khi nó hoạt động trở lại. Nếu nhiễm giang mai quá lâu và không được điều trị đúng cách, bệnh có thể gây ra tổn thương lớn đến các cơ quan nội tạng quan trọng như tim, não hoặc các cơ quan khác của bạn và có thể đe dọa đến tính mạng.

Các biểu hiện theo giai đoạn

Giang mai giai đoạn 1 (giai đoạn nguyên phát)

Đây là giai đoạn rất quan trọng để phát hiện và điều trị bệnh giang mai kịp thời. Giai đoạn này có thể thấy một hoặc một vài vết loét (biểu hiện cứng, tròn, không đau). Do không đau nên những vết loét thường không được chú ý, chúng xuất hiện kéo dài từ 3 đến 6 tuần và tự lành. Ngay cả khi vết loét đã khỏi, việc điều trị vẫn cần được tiếp tục để ngăn chặn khả năng bệnh chuyển sang giai đoạn thứ phát.

Giang mai giai đoạn 2 (giai đoạn thứ phát)

Ở giai đoạn thứ phát, người bệnh có thể bị phát ban da có thể xảy ra đồng thời với tình trạng tổn thương vùng màng nhầy niêm mạc như vết loét vùng miệng, âm đạo hoặc hậu môn. Giai đoạn thứ phát thường khởi đầu bằng các phát ban tại một hoặc nhiều vùng trên cơ thể. Nốt ban đối xứng, màu hồng (còn gọi là đào ban giang mai vì nhìn rất giống hình ảnh hoa đào màu đỏ hồng hoặc hồng tím), ấn vào thì mất, không nổi cao trên mặt da, không bong vảy, không tự mất đi.

Những triệu chứng khác trong giai đoạn này có thể bị bao gồm sốt, sưng tuyến hạch, đau họng, rụng tóc, nhức đầu, sụt cân, đau cơ, và mệt mỏi (cảm thấy rất mệt). Các biểu hiện này sẽ biến mất dù có chữa trị hay không. Nếu không chữa trị đúng cách, bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn giang mai âm ỉ và có thể là tam phát.

Giang mai giai đoạn 3 (giai đoạn âm ỉ)

Trong giai đoạn nguyên phát và thứ phát, các biểu hiện có thể biến mất hoàn toàn, làm cho người bệnh lầm tưởng mình đã hết bệnh. Tuy vậy, giai đoạn này xoắn khuẩn giang mai vẫn còn tồn tại âm ỉ bên trong cơ thể và kéo dài nhiều năm, trước khi bước sang giai đoạn tam phát.

Giang mai giai đoạn 4 (giai đoạn tam phát)

Tam phát là giai đoạn cuối của bệnh giang mai, có xuất hiện sau 3-15 năm kể từ giai đoạn nguyên phát. Giai đoạn này được chia làm ba hình thức khác nhau là giang mai thần kinh (6.5%), giang mai tim mạch (10%) và củ giang mai (15%). Trong đó, giang mai thần kinh gây viêm màng não, thoái hóa não, dẫn đến động kinh, đột quỵ, ảo giác; giang mai tim mạch gây ra phình động mạch chủ; và củ giang mai có khả năng làm biến dạng khuôn mặt người bệnh.

Giang mai bẩm sinh

Giang mai bẩm sinh là bệnh xảy ra khi người mẹ mắc giang mai truyền sang cho con trong thai kỳ hoặc trong quá trình sinh nở. Giang mai bẩm sinh có thể tác động đến sức khỏe thai nhi, gây ra tình trạng sinh non, sinh nhẹ cân và sảy thai. Có đến 40% em bé sinh ra từ người mẹ mắc bệnh giang mai đã tử vong. 

Hầu hết trẻ mắc giang mai bẩm sinh nếu sống sót sau khi chào đời đều có thể phát triển bình thường. Theo thời gian, các triệu chứng có thể phát triển như:

Trẻ dưới 2 tuổi

  • Gan hoặc lách to.
  • Không tăng cân hoặc không phát triển.
  • Hay cáu gắt.
  • Kích ứng và nứt da quanh vùng miệng, bộ phận sinh dục và hậu môn.
  • Phát ban, xuất hiện mụn nước, đặc biệt là lòng bàn tay, bàn chân.
  • Bất thường xương.
  • Chảy nước mũi.

Trẻ trên 2 tuổi và người lớn

  • Có bất thường về răng, cụ thể là răng cửa Hutchinson.
  • Đau xương.
  • Mù, đục giác mạc.
  • Giảm thính lực hoặc điếc.
  • Biến dạng mũi.
  • Có các mảng màu xám, giống như chất nhầy xung quanh hậu môn và âm đạo.

Biến chứng của bệnh giang mai

Bệnh giang mai có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như:

  • Xoắn khuẩn giang mai có thể gây tổn thương tất cả các cơ quan quan trọng trong cơ thể.
  • Bệnh giang mai tác động xấu đến da, niêm mạc, mắt đến các cơ quan nội tạng như gan, tim mạch, thần kinh.
  • Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm như viêm động mạch chủ, phình động mạch chủ, bại liệt toàn thân, rối loạn tâm thần, viêm gan.
  • Giang mai bẩm sinh có thể gây tử vong cho thai nhi hoặc dị dạng thai sau khi sinh.
Sử dụng bao cao su là cách giảm thiệu tình trạng lây bệnh

Điều trị bệnh giang mai

Chẩn đoán bệnh

Xét nghiệm giang mai được xem là phương pháp hữu dụng để góp phần chẩn đoán căn bệnh xã hội này. Giữa các giai đoạn giang mai, nếu không có triệu chứng lâm sàng thì bệnh được gọi là giang mai kín và chỉ có thể xét nghiệm huyết thanh. 

Hiện nay, để phát hiện sớm căn bệnh xã hội nguy hiểm này, có một số xét nghiệm cần được thực hiện như:

Soi kính hiển vi trường tối

  • Đây là xét nghiệm dành cho bệnh nhân giang mai ở giai đoạn đầu. Lúc này xoắn khuẩn giang mai chưa xâm nhập sâu vào máu nên có thể soi được bằng kính hiển vi trường tối. Người bệnh sẽ được lấy mẫu vật để soi dưới kính hiển vi tìm xoắn khuẩn, các mẫu vật có thể là vết loét, dịch âm đạo, dịch niệu đạo…

Sàng lọc RPR

  • Xét nghiệm RPR là phương pháp nhằm kiểm tra, sàng lọc nguy cơ mắc giang mai. Khi một người bị mắc giang mai, cơ thể sẽ tự sản sinh ra kháng thể chống lại sự phát triển của bệnh, xét nghiệm RPR là phương pháp giúp phát hiện ra kháng thể này. 

Tìm kháng thể đặc hiệu

  • Khi cơ thể bị các loại vi khuẩn hoặc độc tố tấn công, hệ miễn dịch sẽ tự động tạo ra một loại kháng thể – protein để chống lại tác nhân đó. Xét nghiệm tìm kháng thể đặc hiệu nhằm mục đích kiểm tra xem có sự xuất hiện của kháng thể chống vi khuẩn Treponema Pallidum hay không, qua đó chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh giang mai.

Cách chữa bệnh giang mai

Do bệnh giang mai gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nên việc điều trị là cần thiết và cần được tiến hành từ sớm. Phương pháp điều trị hiện đang được áp dụng phổ biến nhất là dùng thuốc để khắc chế bệnh.

Điều trị bằng thuốc

Ở giai đoạn đầu, giang mai rất dễ chữa khỏi bằng thuốc. Do đó, một trong những lựa chọn hàng đầu của các bác sĩ chính là cho người bệnh dùng Penicillin, loại kháng sinh có thể tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh giang mai và thường hiệu quả với hầu hết các giai đoạn. Nếu người bệnh bị dị ứng với Penicillin, bác sĩ có thể đề nghị một loại kháng sinh khác hoặc giải mẫn cảm với Penicillin.

Nếu được chẩn đoán mắc bệnh giang mai tiềm ẩn sơ cấp, thứ phát hoặc giai đoạn đầu (dưới một năm), phương pháp điều trị được khuyến nghị là tiêm một lần Penicillin. Với người đã bị bệnh giang mai lâu hơn một năm, bác sĩ có thể tiêm thêm liều bổ sung. Penicillin cũng là phương pháp điều trị duy nhất được khuyến cáo cho phụ nữ mang thai mắc bệnh giang mai.

Ở ngày đầu tiên được điều trị, người bệnh có thể trải qua phản ứng Jarisch-Herxheimer, với triệu chứng bao gồm sốt, ớn lạnh, buồn nôn, đau nhức và đau đầu. Phản ứng này thường không kéo dài hơn một ngày.

Theo dõi điều trị

Sau khi bạn được điều trị bệnh giang mai bằng thuốc, bác sĩ sẽ yêu cầu người bệnh:

  • Kiểm tra và xét nghiệm máu định kỳ để đảm bảo rằng người bệnh đang đáp ứng với liều lượng thông thường của Penicillin. Việc theo dõi cụ thể như thế nào còn tùy thuộc vào giai đoạn bệnh giang mai được chẩn đoán.
  • Tránh quan hệ tình dục với bạn tình mới cho đến khi điều trị xong và xét nghiệm máu cho thấy tình trạng nhiễm trùng đã được chữa khỏi.
  • Thông báo cho bạn tình để họ được kiểm tra và điều trị nếu thấy cần thiết.
  • Xét nghiệm xem có nhiễm virus HIV hay không.

Phòng ngừa bệnh giang mai

Bạn có thể phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh bằng cách tuân thủ những lời khuyên sau đây:

  • Không quan hệ tình dục bừa bãi. Chung thủy một vợ một chồng.
  • Sử dụng bao cao su để làm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh, đặc biệt chú ý che chắn các vùng bị tổn thương.
  • Tránh dùng thuốc kích thích, rượu bia để giữ khả năng phán đoán đúng, tránh các hành vi tình dục không an toàn.
  • Không dùng chung các vật dụng cá nhân với người khác để tránh vi khuẩn còn bám lại trên bề mặt và lây qua các vết thương hở.
  • Nếu phát hiện có bệnh giang mai trước khi sinh con, người mẹ cần thông báo với bác sĩ để được hướng dẫn cách chăm sóc bản thân và ngăn ngừa lây nhiễm cho bé.
  • Tuân thủ lịch khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần hoặc khám theo lời dặn của bác sĩ
  • Tăng cường sức đề kháng bằng cách xây dựng thực đơn cân bằng, tập thể dục thường xuyên, tránh căng thẳng.
  • Dù đã được điều trị giang mai, nhưng người bệnh vẫn có nguy cơ tái nhiễm, nên tuân thủ liệu trình và thực hiện các biện pháp phòng bệnh do bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo.

Giang mai có thể được phát hiện và điều trị hiệu quả bằng các loại kháng sinh đặc hiệu để ức chế sự phát triển của xoắn khuẩn Treponema pallidum. Tuy nhiên, do bệnh vẫn chưa có vắc xin nên phòng bệnh vẫn hơn là chữa bệnh.

Bệnh có thể được chữa khỏi hoàn toàn trong điều kiện phát hiện ở giai đoạn sớm, khi vi khuẩn chưa làm tổn thương sâu các cơ quan nội tạng như: tim mạch, thần kinh…

Ngay khi phát hiện bản thân có nguy cơ nhiễm giang mai, người bệnh nên nhanh chóng đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị. Đừng đợi đến khi bệnh xuất hiện các triệu chứng rõ ràng mới đi thăm khám thì tình trạng có thể đã trầm trọng và khó chữa khỏi hoàn toàn.

Với phụ nữ, trước khi có kế hoạch mang thai cũng cần phải kiểm tra xem có nhiễm vi khuẩn hay không. Nếu có, hãy dành thời gian điều trị dứt trước khi mang thai. Nếu phát hiện bệnh trong thai kỳ, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ sản khoa để có hướng xử lý, hạn chế nguy cơ lây nhiễm cho bé.

Bệnh giang mai tuy có thể chữa khỏi, nhưng người bệnh cũng không vì thế mà chủ quan và không điều trị đúng theo phác đồ của bác sĩ. Việc phát hiện muộn, không tuân thủ phác đồ, gây gián đoạn đều có thể làm cho vi khuẩn kháng thuốc và khiến cho việc điều trị không hiệu quả.