Nấm da là bệnh thường gặp, nấm sẽ phát triển ở vùng da nào ẩm ướt, có nhiều mồ hôi gây ra kích ứng da, ngứa. Bệnh có thể lây cho người khác nên cần phát hiện và điều trị sớm.

Nấm da: nguyên nhân và cách điều trị
Nấm da gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe và tinh thần

Nấm da là bệnh gì?

Bệnh nấm da là một bệnh hay gặp, tỷ lệ mắc bệnh chiếm khoảng 27%, vi nấm gây nhiễm trùng ở mô keratin hóa như da, lông, tóc, móng,…

Các vị trí nhiễm trùng hay gặp là các vùng da kín, nhiều mồ hôi như nách, bẹn, thắt lưng, kẽ chân, tóc, móng,… Mặc dù ít khi gây nguy hiểm tính mạng người bệnh, tuy nhiên nhiễm nấm da thường gây bệnh trong khoảng thời gian dài, ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người bệnh.

Đây là bệnh có thể lây truyền từ người sang người, nếu trong gia đình có người bị bệnh thì khả năng lây là rất cao nếu dùng chung đồ, ngủ chung hoặc không chú ý đến vấn đề vệ sinh cá nhân.

Vì sao nấm da lại phổ biến?

Nước ta ở vùng nhiệt đới (nóng ẩm) thích hợp cho các bệnh nấm da phát triển. Thường gặp nhất là nấm hắc lào, nấm lang ben, nấm kẽ…. Nấm là một loại sinh vật hạ đẳng không có chất diệp lục nên không tổng hợp được chất hữu cơ mà phải sống bằng cách ký sinh vào vật chủ: thực vật, động vật (chó, mèo, trâu bò…) và người.

Con người bị nhiễm nấm từ các nguồn sau: môi trường (đất, cây cối, không khí…), động vật (chó, mèo, ngựa…), người bệnh sang người lành. Điều kiện thuận lợi để mắc bệnh nấm da là pH 6.9 – 7.2 hơi kiềm, các vùng da kín, nếp gấp lớn kẽ hay ra mồ hôi, ẩm ướt, vệ sinh cá nhân kém, mặc quần áo chật, lạm dụng xà phòng, mồ hôi ra nhiều, nhiệt độ nóng ẩm 27 – 35 độ C, đề kháng giảm, rối loạn nội tiết, dùng thuốc ức chế miễn dịch, dùng kháng sinh dài ngày….

Nguyên nhân gây nấm da

Nguyên nhân gây bệnh gồm khoảng trên 30 loài nấm, chủ yếu thuộc các chi Trichophyton, Epidermophyton, Microsporum, phân bố rộng rãi trên thế giới.

Nấm ký sinh ở các tế bào thượng bì chết và chúng sinh sôi phát triển. Chế độ sinh hoạt không khoa học cũng tạo điều kiện cho nấm da phát triển, cụ thể như:

  • Nấm da phát triển thuận lợi trong môi trường hơi kiềm có độ pH từ 7 đến 7,2.
  • Vệ sinh không sạch sẽ dẫn đến bị nấm vùng kín, những nơi hay ra mồ hôi như kẽ tay kẽ chân, sử dụng xà phòng không đúng cách.
  • Mồ hôi nhiều, ẩm ướt, mặc quần áo chật chội cùng với nhiệt độ từ 27 – 35 độ C cũng tạo điều kiện cho nấm phát triển.
  • Sử dụng nhiều thuốc kháng sinh, thuốc ức chế miễn dịch hoặc phụ nữ bị rối loạn nội tiết.

Bệnh có thể lây truyền theo các đường sau:

  • Từ người sang người: Bệnh dễ lây qua tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh nếu không chú ý vệ sinh hoặc có thói quen dùng chung khăn mặt, chung quần áo, giày dép…
  • Từ động vật sang người: Do tiếp xúc với động vật mắc bệnh, như khi vuốt ve hoặc chải lông cho chó, mèo,..
  • Tiếp xúc với môi trường thiếu vệ sinh: một số trường hợp có thể bị nhiễm nấm do tiếp xúc với đất bẩn, đất nhiễm nấm hoặc lây nhiễm từ bào tử nấm có trong môi trường xung quanh, ví dụ như nguồn nước không đảm bảo vệ sinh.
  • Do môi trường ẩm ướt: dễ tạo điều kiện do vi khuẩn nấm dễ phát triển và sinh sôi.

Các loại nấm da và dấu hiệu thường gặp

Bệnh lang ben

Lang ben do nấm Pityrosporum gây nên, thường có hai dạng: dạng màu trắng và dạng màu đen. Bệnh gây ngứa, nhất là khi ra nắng hay da tiết nhiều mồ hôi. Lúc này, bệnh nhân có cảm giác bị kim chích nhẹ gây ngứa ngáy khó chịu.

Bệnh lang ben tùy thuộc khá nhiều vào việc vệ sinh da, sức đề kháng, độ pH của da và cả độ ẩm của da. Một số trường hợp trong cùng một gia đình có người mắc bệnh lang ben nhưng người thân khác lại không mắc.

Nấm hắc lào

Điển hình là nấm Dermatophytes gây bệnh hắc lào với dấu hiệu đầu tiên là ngứa vùng bị bệnh, sau đó sẽ thấy một vệt màu hơi đỏ, có viền và bờ rõ rệt, trên viền có các mụn nước lấm tấm. Viền nấm có xu hướng ngày càng lan rộng tạo thành nhiều hình vòng cung nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Khi người bệnh ngứa, gãi sẽ làm lây lan ra nhiều vùng hắc lào trên cơ thể mình.

Bệnh hắc lào là một trong những bệnh da liễu có khả năng lây truyền từ người này sang người khác, thường do sử dụng chung các đồ dùng sinh hoạt như dùng chung quần áo, khăn mặt – khăn tắm, ngủ cùng giường, đắp cùng chăn…

Nấm kẽ chân

Nấm kẽ

Căn nguyên của bệnh là do vi nấm Epidermophyton, nấm trichophyton hay còn do nấm Candida albicans gây ra.

Bệnh thường gặp ở những người có nghề nghiệp phải ngâm chân trong nước nhiều giờ, liên tục nhiều ngày như: nông dân, người làm vệ sinh cống rãnh, vận động viên bơi lội…. Nấm kẽ thường có 3 thể: thể tróc vảy khô, thể mụn nước và thể viêm kẽ.

Nấm móng

Nấm móng thường do trichophyton gây nên. Bệnh xuất hiện ở bờ tự do của móng hay ở hai bên cạnh của móng. Khi bị bệnh, móng sẽ mất màu bóng, bị đẩy nhô lên hoặc khuyết vào, mặt móng lỗ chỗ hoặc thành rãnh, dưới rãnh có chất bột vụn. Móng của người bệnh càng ngày càng bị sần sùi, màu vàng hoặc đục. Bệnh có thể lây từ móng này sang móng khác.

Ngoài nấm trichophyton còn có nấm móng do nấm Candida albicans gây tổn thương bên trong góc móng, móng mọc ra bị lồi lõm, da vùng góc móng cũng bị tổn thương sưng đỏ và đôi khi bị mưng mủ.

Nấm tóc

Nấm tóc do Piedra Hortai gây nên. Biểu hiện là trên mỗi sợi tóc có nhiều hạt màu đen bám vào nhưng bệnh nhân không cảm thấy gì khác thường và tóc cũng không bị rụng. Trong khi đó, nấm tóc do Trichophyton gây ra thì biểu hiện tổn thương trên da đầu với nhiều vết tròn nhỏ, kích thước bé khoảng 3 – 5mm, da đầu có vảy mỏng hoặc ngứa da vùng đầu.

Điều trị bệnh nấm da

Là bệnh lành tính, hầu như chúng không gây nên những tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, tuy nhiên dễ lây lan, gây khó chịu và ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người bệnh. Không những thế bệnh còn dai dẳng, khó điều trị dứt điểm, những lần tái phát sau còn nặng hơn lần trước gây rất nhiều khó khăn trong việc điều trị.

Nguyên tắc điều trị

Sử dụng thuốc kháng nấm liên tục và đủ liều lượng, đủ thời gian, đa số là sử dụng thuốc điều trị nấm tại chỗ, trường hợp nhiễm trùng lan rộng, khó điều trị tại chỗ có thể chỉ định thuốc kháng nấm đường uống; kết hợp các yếu tố vệ sinh và chăm sóc tại chỗ; tuân thủ điều trị và áp dụng các biện pháp phòng bệnh nhằm hạn chế lây bệnh cho người khác;…

Một số nhóm thuốc có thể chỉ định như:

  • Thuốc mỡ: Benzosali, thuốc kháng nấm tại chỗ như miconazole, clotrimazole, ketoconazole,…
  • Thuốc uống: Griseofulvin, terbinafine (là thuốc được đánh giá tốt trong điều trị nấm da, đặc biệt là nấm móng), nhóm Azole như, Itraconazole, Fluconazole,…
  • Thuốc nước như ASA, BSI,…

Phác đồ với nấm da đầu

  • Có thể chỉ định terbinafine 250 mg/ngày với thời gian điều trị khoảng 4 tuần, itraconazole 100mg/ngày với thời gian điều trị khoảng 4 tuần, griseofulvin 500mg/ngày trong khoảng 6 – 8 tuần, kết hợp với điều trị tại chỗ.       

Phác đồ điều trị với nấm da

  • Trường hợp nhẹ có thể sử dụng thuốc bôi tại chỗ, tổn thương da rộng và nhiều hơn có thể chỉ định thuốc bôi tại chỗ kết hợp thuốc chống nấm đường uống như Itraconazole 200mg/ngày trong 1 – 2 tuần, Terbinafine 250mg/ngày trong 2-4 tuần, griseofulvin 500mg/ngày trong khoảng 4 – 6 tuần.

Điều trị nấm móng

  • Chỉ định thuốc chống nấm tại chỗ và đường uống, phối hợp với một số biện pháp điều trị khác như điều trị bằng laser, phẫu thuật,… 
  • Chỉ định terbinafine 250 mg/ ngày trong 6 tuần với nấm móng tay và 12 tuần với nấm móng chân, kết hợp với điều trị tại chỗ như Efinaconazole, Tavaborole, Ciclopriox,… Itraconazole là lựa chọn thay thế cho Terbinafine với liều dùng 100 mg x 2 lần/ ngày trong  6 tuần với nấm móng tay, trong 12 tuần với nấm móng chân hoặc chỉ định liều ngắt quãng 200 mg x 2 lần/ ngày x 1 tuần/ tháng trong 2 tháng với nấm móng tay, trong 3 tháng với nấm móng chân.
  • Một số thuốc kháng nấm thay thế khác như Fluconazole, Griseofulvin, Posaconazole,…  có hiệu quả trong một số nghiên cứu. Ketoconazole không được khuyến cáo trong điều trị nấm móng do nhiều tác dụng phụ và tương tác thuốc.
  • Phẫu thuật cắt bỏ móng trong trường hợp người bệnh không đáp ứng với điều trị nội khoa.

Lưu ý khi điều trị

Ngay khi phát hiện biểu hiện của bệnh nấm da thì bạn cần nhanh chóng đi thăm khám, làm xét nghiệm để bác sĩ chẩn đoán và xác định loại vi nấm nào gây bệnh.

Cần chú ý tác dụng phụ của các thuốc kháng nấm trên các cơ quan khác khi sử dụng trong thời gian dài. Thời gian điều trị phụ thuộc vào tổn thương và cá thể người bệnh, có thể kéo dài từ 7 ngày đến 12 tuần.

Bệnh cần tuân thủ điều trị và áp dụng các biện pháp phòng bệnh để tránh tái phát sau điều trị.

Để đề phòng bệnh nấm da cần vệ sinh da sạch sẽ, da luôn được thoáng mát. Không mặc chung quần áo, không dùng chung khăn mặt, khăn tắm, không dùng chung chăn, gối và không ngủ chung giường với người đang bị bệnh nấm da.