Parkinson là bệnh lý thoái hoá của hệ thần kinh và tiến triển từ từ tăng dần. Người bệnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày và bị trầm cảm.

Parkinson là bệnh gì?
Parkinson gây ra nhiều ảnh hưởng về sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh

Parkinson là bệnh gì?

Bệnh Parkinson là một trong những bệnh về thần kinh, thường xảy ra khi nhóm tế bào trong não bị thoái hóa, không thể kiểm soát được vận động của cơ bắp, khiến cho con người đi lại khó khăn, cử động chân chạp, chân tay bị run cứng. Khi bệnh tiến triển có thể ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh, làm thiếu hụt dopamine.

Hiện tại vẫn chưa có phương pháp có thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh nhân bị mắc bệnh Parkinson mà chỉ có những biện pháp giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, trì hoãn tiến trình tiến triển của bệnh.

Bất kỳ ai cũng có nguy cơ mắc bệnh Parkinson. Tuy nhiên, các nghiên cứu và thống kê dựa trên nhóm người mắc bệnh cho thấy, hầu hết người bệnh đều trên 60 tuổi và phần lớn là nam giới.  Tỷ lệ người mắc bệnh Parkinson dưới 50 tuổi là 1/10, tức cứ 10 người bệnh thì mới có 1 người dưới 50 tuổi.  

Tại Việt Nam, có khoảng 6,1 triệu người mắc bệnh Parkinson, chiếm 1% trên tổng dân số. Tỷ lệ người bệnh Parkinson tử vong cũng ở mức tương đối cao, tăng gấp 2,16 lần chỉ trong năm 2016 và đang ngày càng có dấu hiệu gia tăng.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân bệnh Parkinson là do các tế bào thần kinh hạch nền (nhóm các nhân xám nằm sâu trong bán cầu đại não điều hòa vận động của con người) bị suy yếu và/hoặc mất. Thông thường, các tế bào thần kinh này sẽ tạo ra một chất hóa học được gọi là dopamine. Khi các tế bào thần kinh ở hạch nền chết hoặc bị suy yếu, chúng sẽ sản xuất ít dopamine hơn, giảm kích thích lên vỏ não và khiến người bệnh gặp khó khăn trong vận động.

Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác khiến tế bào thần kinh chết đi và dẫn đến bệnh Parkinson. Vì vậy, có thể nói nguyên nhân Parkinson vẫn chưa được xác định cụ thể.

Một số yếu tố được cho là có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh Parkinson bao gồm:

  • Tuổi tác: Càng lớn tuổi thì lượng dopamine trong cơ thể càng suy giảm nhanh chóng hơn.
  • Môi trường: Thường xuyên tiếp xúc với các chất hóa học độc hại như thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu,… làm tăng nguy cơ mắc bệnh Parkinson.
  • Chấn thương sọ não: Người có tiền sử chấn thương sọ não dễ bị bệnh Parkinson hơn so với người bình thường.
  • Di truyền: Một số trường hợp bị Parkinson được cho là có liên quan đến di truyền. Nếu gia đình có người từng mắc bệnh Parkinson thì nguy cơ mắc bệnh của bạn cũng cao hơn.

Những dấu hiệu của bệnh

Bệnh nhân bị bệnh Parkinson có một số biểu hiện, dấu hiệu  bệnh như sau:

Tính cách thay đổi

  • Do bộ não thường chịu trách nhiệm về suy nghĩ, hành động, nhìn nhận và phản ứng với tình huống, nên bất kỳ thay đổi nào trong tính cách cũng là nguyên nhân sớm của bệnh Parkinson.

Phối hợp các hoạt động chậm chạp

  • Là một trong những dấu hiệu rõ rệt nhất của bệnh Parkinson khi mới ở giai đoạn đầu. Với các biểu hiện như: bất kỳ thay đổi tư thế như quay đầu, quay người, cài khuy, buộc dây giày… được làm với tốc độ chậm, không rõ ràng.

Giảm cảm giác về mùi

  • Ở giai đoạn đầu, bệnh Parkinson thường ảnh hưởng đến khứu giác của con người, làm cho bệnh nhân không có khả năng phân biết mùi của thực phẩm, tình trạng này ngày càng nặng nếu không được chũa trị kịp thời.

Các vấn đề về đường ruột

  • Các dấu hiệu như táo bón hoặc các vấn đề về tiêu hóa phổ biến, đặc biệt với người lớn tuổi.

Đau vai

  • Bệnh đau vai kéo dài, kể cả khi có sự can thiệp của y tế như dùng thuốc mà không thuyên giảm là một trong những dấu hiệu của bệnh Parkinson.

Mệt mỏi

  • Biểu hiện mệt mỏi thường xuyên kèm với một trong những dấu hiệu sớm của bệnh Parkinson sẽ là nguy cơ cao của.

Rối loạn giấc ngủ

  • Đây cũng là triệu chứng phổ biến ở người mắc bệnh Parkinson. Nguyên nhân có thể do người bệnh bị trầm cảm, dẫn đến buồn ngủ và ngủ nhiều vào ban ngày. Ngoài ra, mất ngủ cũng có thể là tiểu đêm thường xuyên khiến người bệnh khó quay trở lại giấc ngủ hoặc người bệnh không thể quay trở lại giường được.

Một số dấu hiệu khác như

  • Có một số thay đổi trong những thói quen sinh hoạt hàng ngày như: thay đổi chữ viết, giọng nói, tính khí thất thường.
  • Một số biểu hiện bệnh dễ dàng gặp phải như: run nhẹ khi bệnh đã tiến triển, gặp vấn đề khi di chuyển, rối loạn giấc ngủ, liệt cơ mặt, ngất xỉu, mất sự cân bằng.

Các triệu chứng Parkinson thường phát triển chậm trong nhiều năm. Ngoài ra, những dấu hiệu này cũng có sự khác nhau tùy theo người bệnh. Trong đó, các rối loạn liên quan đến vận động là dấu hiệu bệnh Parkinson phổ biến nhất.

Người bệnh bị mất ngủ, sa sút trí tuệ

Biến chứng của bệnh Parkinson

Các biến chứng của bệnh Parkinson thường xảy ra ở những bệnh nhân không điều trị bệnh sớm, bệnh bước vào giai đoạn trễ. Trong đó, những biến chứng phổ biến nhất bao gồm:

  • Sa sút trí tuệ, lú lẫn, kém minh mẫn, không thể nhớ được những người thân xung quanh hay các sự việc đã – đang diễn ra. 
  • Nguy cơ té ngã cao, dẫn đến các chấn thương như gãy xương, đứt dây chằng, chấn thương sọ não,…
  • Sụt cân, suy kiệt.
  • Viêm phổi, khó thở.
  • Nhiễm trùng đường tiểu, gây nên tình trạng nhiễm trùng thận cấp tính hoặc mạn tính hoặc nguy hiểm hơn là nhiễm trùng huyết và dẫn đến tử vong.

Bên cạnh các biến chứng kể trên, người mắc bệnh Parkinson cũng có thể gặp các biến chứng khi sử dụng thuốc điều trị levodopa, chẳng hạn như dao động vận động, loạn động. Hầu hết người bệnh đều gặp tác dụng phụ của thuốc này do levodopa là một loại thuốc điều trị đặc trưng và phổ biến đối với bệnh nhân mắc bệnh Parkinson.

Cách điều trị bệnh

Mặc dù bệnh Parkinson không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sinh hoạt của bạn. Bạn có thể trở thành người tàn phế nếu bệnh tiến triển nặng. Do đó, người bệnh nên phát hiện và điều trị bệnh càng sớm càng tốt. Dưới đây là một số cách điều trị mà bạn có thể áp dụng để ngăn chặn bệnh phát triển:

Điều trị bằng thuốc

Để điều trị bệnh Parkinson, bạn có thể sử dụng một số thuốc do bác sĩ chỉ định như:

  • Thuốc đồng vận dopamine: có tác dụng kích thích trực tiếp đến các thụ thể dopamin như: sifrol, trivastal, bromocriptine,…
  • Thuốc thay thế dopamine: là thuốc bổ sung dopamine kịp thời như Madopar, Syndopa, Sinemer,… Trong quá trình sử dụng thuốc không nên kết hợp với vitamin B6.
  • Thuốc ức chế dị hóa dopamin: những loại thuốc thuộc nhóm này thường ít có ở Việt Nam.
  • Thuốc kháng tiết cholin (Artan, Trihex).

Khi mới sử dụng các loại thuốc này, người bệnh chỉ nên dùng với liều thấp, sau đó mới tăng dần và duy trì liều lượng. Nếu muốn đổi sang loại thuốc khác, người bệnh nên thay đổi từ từ, không ngừng thuốc đột ngột. Trong quá trình sử dụng, người bệnh có thể gặp một số tác dụng phụ do thuốc gây ra như: khô miệng, tim đập nhanh, dị ứng, đau bụng, buồn nôn,… nặng hơn có thể gây lú lẫn, ảo giác,…

Điều trị phẫu thuật

Trường hợp sử dụng thuốc không thể cải thiện các dấu hiệu bệnh Parkinson, người bệnh có thể được chỉ định phẫu thuật. Các phương pháp phẫu thuật đối với bệnh nhân mắc chứng Parkinson bao gồm phẫu thuật định vị, phẫu thuật kích thích điện vùng liềm đen – thể vận và ghép mô thần kinh.

Phục hồi chức năng

Các biện pháp phục hồi chức năng mà người bệnh có thể áp dụng bao gồm:

  • Vật lý trị liệu giúp người bệnh tăng khả năng vận động và giảm rối loạn thăng bằng.
  • Phương pháp trị liệu ngôn ngữ: giúp người bệnh giảm các rối loạn về nói và nuốt.
  • Các bài tập luyện như: yoga, thái cực quyền, dưỡng sinh, rất có ích với người bệnh trong việc cải thiện khả năng vận động.
Người bệnh cần được theo dõi

Chăm sóc, dinh dưỡng cho người bệnh

Dinh dưỡng cho người bệnh

Bổ sung dinh dưỡng đúng cho người bệnh là rất quan trọng. Với người bệnh mắc Parkinson, các loại thực phẩm nên ăn gồm có:

  • Thực phẩm chứa thành phần chống oxy hóa: Các loại thực phẩm như trà xanh, cà chua, súp lơ, cà rốt,… giúp chống oxy hóa, làm chậm quá trình thoái hóa não bộ ở bệnh nhân Parkinson.
  • Thực phẩm giàu dopamine: Người bệnh nên bổ sung thực phẩm giàu dopamine như chuối, các loại hạt, các loại đậu… để não bộ linh hoạt hơn, tránh được các biến chứng của bệnh.
  • Thực phẩm giàu omega-3: Thực phẩm giàu omega-3 giúp bổ sung chất béo lành mạnh, giúp các tế bào mô được “nạp dinh dưỡng”. Người bệnh nên ăn cá hồi, cá ngừ, cá thu,… để bổ sung omega-3, từ đó kích thích não bộ và duy trì trí nhớ tốt hơn.
  • Các loại chất xơ: Người bệnh Parkinson nên ăn gì? Đó chính là thực phẩm giàu chất xơ như rau xanh và trái cây bởi thuốc điều trị bệnh thường dễ gây táo bón. Hơn nữa, bệnh cũng có thể gây ra rối loạn tiêu hóa và dẫn đến táo bón, cảm giác đau khi đi đại tiện.

Một lưu ý dành cho người mắc bệnh Parkinson đó chính là nên hạn chế thực phẩm nhiều đường, thực phẩm giàu protein cũng như các chất kích thích.

Tạo môi trường sinh hoạt an toàn cho người bệnh

Các triệu chứng ở hội chứng Parkinson lâu dần sẽ khiến người bệnh tăng nguy cơ vấp ngã. Vì vậy người thân xung quanh cần chú ý hơn về môi trường sống của bệnh nhân thông qua việc:

  • Dùng thảm trải sàn: giúp giảm nguy cơ trơn trượt.
  • Chú hệ thống đèn và dây điện: Đảm bảo các công tắc nằm trong tầm với và sử dụng của người bệnh.
  • Sắp xếp đồ đạc: cần sắp xếp hợp lý để người bệnh và thiết bị hỗ trợ có thể di chuyển thuận lợi.
  • Hạn chế các loại đồ trang trí như: bình hoa lớn, tượng,… ở lối đi chính.
  • Phòng ngủ: tình trạng người bệnh có thể dần diễn biến tệ hơn nhất là việc đi lại. Vì thế cần lắp đặt thêm các thanh chắn hay tay cầm an toàn cạnh khung giường để có thể hỗ trợ bệnh nhân di chuyển.
  • Phòng tắm: đây là nơi nguy hiểm có khả năng trượt ngã khá cao. Vì vậy đối với gia đình có người bị parkinson cần chú ý đảm bảo an toàn bằng việc lắp đặt các thanh vịn cạnh bồn rửa mặt, bồn tắm hay bồn cầu.

Duy trì vận động trong chăm sóc bệnh nhân Parkinson

Các chuyên gia khuyến cáo nên dành ra từ 30-50 phút/ngày để luyện tập cho người bệnh. Điều này giúp giảm các cơn run, cơ cúng và giúp họ đi lại vận động dễ hơn.

Người bệnh Parkinson có thể lựa chọn các môn thể thao nhẹ nhàng như: đi bộ, yoga, đạp xe,…

  • Đi bộ: là một trong những biện pháp được cho là tốt nhất trong luyện tập. Khi kết hợp với dùng thuốc sẽ giúp sự linh hoạt của cơ thể được tăng lên.
  • Tập kéo vai. Người bệnh ngồi thẳng lưng để hai tay về trước, khuỷu tay và bàn tay sát lại. Sau đó đưa dần hai tay sang hai bên càng xa càng tốt.
  • Động tác đứng lên ngồi xuống. Sử dụng các loại ghế tựa có tay vịn và chỗ ngồi chắc. Khi đứng lên cần nghiêng người về trước và vịn hai tay vào thành ghế để đẩy lên. Khi ngồi xuống thì quay lưng và nghiêng người về trước rồi từ từ ngồi xuống.

Việc lên kế hoạch và chăm sóc người bệnh bước đầu có thể gặp khá nhiều khó khăn. Tuy nhiên mọi người đều phải giữ tinh thần lạc quan kiên trì và cảm thông với người bệnh.