Ung thư thận chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 2% tổng số ung thư. Là bệnh vô cùng nguy hiểm và gây ra những hậu quả nặng nề đối với tình trạng sức khỏe người bệnh, tỷ lệ tử vong cao. Hầu hết người bệnh được chẩn đoán trong độ tuổi 60 và 70.

Ung thư thận: nguyên nhân và cách điều trị
Ung thư thận là bệnh nguy hiểm

Bệnh ung thư thận

Ung thư thận là sự phát triển ác tính các tế bào, hình thành một khối u trong thận. Một số trường hợp có thể là u lành tính, không phải ung thư.

Ung thư thận có thể được chia ra 5 loại

  • Ung thư thận tế bào sáng (ccRCC)
  • Ung thư nhú thận (pRCC)
  • Ung thư thận kỵ màu (Chromophobe RCC, chRCC)
  • Oncocytom thận
  • Ung thư ống góp Bellini

Tỷ lệ ung thư tế bào sáng (ccRCC) chiếm đến 70 – 80% ở các trường hợp. Căn bệnh này đứng ở vị trí thứ hai ở trong số những căn bệnh ác tính của hệ tiết niệu. Chúng chiếm khoảng 1% – 2% trong số các loại ung thư có ở người trưởng thành.

Trong quá trình phát triển, khối u thận sẽ lớn dần, phá vỡ bao thận và xâm lấn vào lớp mỡ quanh thận và các cơ quan lân cận. Tế bào ung thư cũng có thể di căn tới các cơ quan xa như gan, phổi, não, xương,… 

Các tế bào ung thư thận sẽ di căn theo hướng các đường bạch huyết và cả tĩnh mạch. Theo tuyến đường bạch huyết, các tế bào ung thư thận sẽ di căn vào trong các hạch ở vùng thắt lưng, các động mạch chủ và đến những hạch sau phúc mạc, bụng và cả trung thất. Có nhiều trường hợp, chúng còn di căn đến thượng đòn, nách và vùng cổ.

Nguyên nhân gây ra ung thư thận

Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên một vài yếu tố được cho là có tác động đến sự xuất hiện bệnh.

Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ gây ung thư thận, khoảng 30% nam giới và khoảng 24% nữ giới hút thuốc là bị ung thư thận. Thời gian hút thuốc càng lâu và số lượng thuốc lá tiêu thụ càng nhiều thì nguy cơ mắc bệnh càng cao.

  • Nhiều độc tố được tìm thấy trong khói thuốc lá có thể gây tổn thương DNA của các tế bào trong đó người ta nói nhiều đến benzo (a) pyrene là chất gây tổn thương gen p53 – một gen có vai trò mã hóa cho protein p53 là một protein có vai trò bảo vệ các tế bào của cơ thể chống lại ung thư

Các cacbua hydro thơm đa vòng như 3’ – 5’ benzo – pyrene cũng được cho là có liên quan đến sự xuất hiện ung thư thận. Nhiều nghiên cứu cho thấy, công nhân một số ngành có tiếp xúc với cacbua hydro thơm đa vòng như 3’ – 5’ benzo – pyrene có tỷ lệ mắc bệnh cao như nghề in, hoá chất, nhuộm hoặc tiếp xúc với xăng dầu.

Yếu tố di truyền: bệnh có thể xuất hiện ở nhiều người trong cùng gia đình. Những người bị khuyết đoạn ở nhiễm sắc thể số 3 hoặc chuyển vị của các nhiễm sắc thể số 3 và nhiễm sắc thể số 8 cũng có tỷ lệ mắc bệnh cao.

Những triệu chứng của bệnh

Cứ 10 người bị ung thư thận thì có 1 người có các triệu chứng như đau một bên cơ thể, có khối u ở bụng hoặc tiểu ra máu. Những dấu hiệu cho thấy bệnh có thể đã tiến triển. Một số người cũng có thể gặp hội chứng cận ung thư. Đây là những phản ứng của cơ thể đối với bất kỳ loại ung thư nào như huyết áp cao, giảm cân, sốt, thiếu máu, giảm khối lượng cơ và chán ăn.

Tiểu ra máu

Triệu chứng này khá phổ biến, với khoảng 80% bệnh nhân đều gặp phải. Tình trạng đái máu thường có những đặc điểm như: đại thể, toàn bãi, không xuất hiện máu cục, đái máu một cách vô cớ. Sẽ có những trường hợp đái máu vi thể hoặc nhiều, có xuất hiện thêm máu cục và đôi khi cũng là do những cơn đau quặn thận

Đau ở vùng thắt lưng

Người bệnh sẽ cảm nhận được những cơn đau âm ỉ, đau do khối u phát triển với kích thước to ra khiến cho bao thận bị căng. Có một vài trường hợp có thể đi kèm theo những cơn đau quặn thận vì máu cục làm cho đường niệu bị tắc nghẽn.

Có khối u ở vùng thắt lưng

Nếu bệnh nhân phát hiện bệnh muộn thì sẽ có những người cảm nhận được có một khối u rắn bờ không đồng đều, bị gồ ghề và ít di chuyển.

Cả ba dấu hiệu kể trên được xem là những triệu chứng kinh điển và phổ biến nhất đối với căn bệnh này. Ngoài ra, bệnh còn có thêm một vài triệu chứng nhận biết khác như:

  • Bị giãn tĩnh mạch tinh ở cùng bên phát hiện ra u thận.
  • Tình trạng sốt kéo dài dai dẳng do tình trạng hoại tử trong khối u hoặc trong thận hay do tình trạng phản ứng của cơ thể gây ra. 
  • Chứng đau đầu, thường xuyên mệt mỏi, bị chóng mặt, xuất hiện tình trạng tê ngứa ở các chi và có thể xuất hiện rối loạn thị giác. 
  • Cân nặng bị giảm sút đột ngột, người bệnh có dấu hiệu chán ăn, bị suy nhược cơ thể, bị thiếu máu, xuất hiện những cơn sốt nhẹ và tốc độ máu lắng tăng nhanh hơn. 
  • Gan trở nên to hơn, bề mặt nhẵn, không bị đau. Đi kèm với đó là phosphatase kiềm tăng cao và tỷ lệ prothrombin giảm xuống, có albumin máu giảm
  • Huyết áp tăng cao vì khối u tiết ra nhiều renin hoặc là vì bị chèn ép động mạch thận.

Trong trường hợp di căn của ung thư vào phổi, gan, xương và các tạng khác, bệnh nhân có thể đến khám với các triệu chứng của các cơ quan này.

Hoặc ngược lại ung thư được phát hiện một cách tình cờ, khi chưa có dấu hiệu lâm sàng, nhân khi chụp niệu đồ tĩnh mạch, siêu âm, chụp CT Scanner, chụp phổi… Các trường hợp này ngày càng nhiều nhờ sự phổ cập của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.

Thăm khám sức khỏe định kỳ nhằm đảm bảo sức khỏe tốt nhất

Điều trị ung thư thận

Nếu bệnh nhân có chẩn đoán ung thư thận khu trú, bác sĩ của có thể khuyên nên điều trị ung thư bằng các phương pháp sau: 

  • Cắt bỏ một phần thận
  • Cắt thận triệt căn
  • Theo dõi chủ động
  • Hủy u bằng sóng vô tuyến hoặc áp lạnh.

Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm. Tùy vào tình trạng cụ thể của bạn mà lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Nếu bạn được chẩn đoán ung thư thận tiến triển tại chỗ, bác sĩ có thể đề nghị cắt thận triệt căn hoặc tắc mạch. 

Khối u thận có thể di căn đến các cơ quan khác hoặc các hạch. Đây được gọi là bệnh di căn.
Trong bệnh di căn, khối u thận được gọi là khối u nguyên phát và các khối u ở các cơ quan khác được gọi là di căn. Bác sĩ có thể đề nghị điều trị bệnh di căn bằng phẫu thuật, thường kết hợp với liệu pháp kháng sinh mạch, còn được gọi là liệu pháp nhắm trúng đích. Trong một số ít trường hợp, liệu pháp miễn dịch cũng có thể được sử dụng. Để điều trị di căn, xạ trị có thể được đề nghị.

Nói chung, bệnh di căn không thể chữa khỏi. Việc điều trị của bệnh di căn nhằm mục đích giảm kích thước của khối u và di căn. Điều này sẽ cho người bệnh cơ hội sống lâu hơn và có ít triệu chứng hơn.

Đôi khi, người bệnh không thể phục hồi sau điều trị ung thư thận. Khi điều trị không còn thành công, người bệnh có thể được đề nghị chăm sóc giảm nhẹ để sống thoải mái hơn. Chăm sóc giảm nhẹ là một khái niệm chăm sóc với mục tiêu tối ưu hóa chất lượng cuộc sống của người bệnh nếu không thể khỏi bệnh.

Ung thư thận là một căn bệnh nguy hiểm, cần được điều trị càng sớm càng tốt. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ bệnh, bạn nên đến cơ sở y tế uy tín để thăm khám và điều trị kịp thời.