Xơ vữa động mạch là tình trạng mảng xơ vữa tích tụ bên trong thành động mạch, khiến động mạch bị thu hẹp, giảm lưu lượng máu đến các cơ quan quan trọng trong cơ thể. Tình trạng này có thể gây nguy hại cho sức khỏe nếu không được can thiệp điều trị sớm.

Xơ vữa động mạch
Xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch là bệnh gì?

Xơ vữa động mạch xảy ra khi các động mạch bị tắc nghẽn bởi các mảng bám (được hình thành từ các chất béo, cholesterol, canxi và các chất khác) tích tụ trong thành động mạch. Xơ vữa động mạch có thể ảnh hưởng đến hầu hết các động mạch trong cơ thể như các động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, mạc treo và thận.

Khi mảng xơ vữa nứt vỡ sẽ tạo ra các cục máu đông gây lấp kín thành mạch- vốn dĩ đã bị hẹp sẵn bởi các mảng xơ vữa. Chúng gần như đóng vai trò chủ đạo trong các biến cố tim mạch: nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, tắc mạch chi…

Nếu như huyết khối xảy ra ở một trong hai động mạch vành chính cung cấp máu cho tim, điều này dẫn đến nhồi máu cơ tim; nếu xảy ra ở một trong những động mạch đến não sẽ gây đột quỵ; và nếu xảy ra trong các động mạch ở các chi có thể dẫn đến bệnh động mạch ngoại biên.

Nguyên nhân gây ra bệnh

Xơ vữa động mạch là một quá trình phức tạp, thường bắt đầu từ thời thơ ấu và tiến triển theo tuổi. Trong khi nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết rõ, chứng xơ vữa động mạch có thể bắt đầu từ tổn thương lớp bên trong của động mạch và có liên quan đến các yếu tố nguy cơ.

Các yếu tố nguy cơ phổ biến là:

  • Trên 55 tuổi
  • Nam giới (tuy nhiên khi phụ nữ bước vào giai đoạn tiền mãn kinh thì nguy cơ tương đương như nam giới)
  • Tiền sử gia đình có người bị xơ vữa động mạch
  • Hút thuốc lá
  • Tăng huyết áp
  • Béo phì
  • Rối loạn mỡ máu
  • Đái tháo đường
  • Lối sống ít vận động
  • Thường xuyên căng thẳng tâm lý
  • Nồng độ axit uric máu cao
  • Ăn nhiều muối
  • Chế độ ăn nhiều thực phẩm giàu chất béo bão hòa.

Những triệu chứng của bệnh

Xơ vữa động mạch thường không gây ra các triệu chứng cho đến khi ở giai đoạn nặng. Lúc này tình trạng hẹp động mạch nặng khiến lưu lượng máu bị gián đoạn, không thể vận chuyển đến các cơ quan và mô.

Tùy vào vị trí động mạch bị xơ vữa mà nó có các biểu hiện như sau:

  • Xơ vữa động mạch mắt: Thiếu máu nuôi võng mạc gây rối loạn thị lực, giảm thị lực và mù lòa.
  • Xơ vữa động mạch cảnh: các triệu chứng của cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA) có thể tiến triển thành đột quỵ nếu không được điều trị – đột ngột yếu hoặc tê ở tay hoặc chân, nói lắp hoặc nói khó, mất thị lực tạm thời ở mắt hoặc sụp mí cơ bắp.
  • Xơ vữa động mạch mạc treo tràng trên, mạc treo tràng dưới, động mạch thượng vị (các động mạch cung cấp máu cho ruột): Gây thiếu máu, loét, thủng, rối loạn chức năng vùng nuôi dưỡng tương ứng. Triệu chứng: đau dữ dội sau bữa ăn, sụt cân và tiêu chảy.
  • Xơ vữa động mạch thận: Gây hẹp động mạch thận. Ban đầu không có triệu chứng, khi bệnh nặng gây tăng huyết áp, cực kỳ mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, sưng bàn tay hoặc chân. Ở bệnh nhân tăng huyết áp thường dẫn đến suy thận.
  • Xơ vữa động mạch vành: Thường động mạch vành trái xơ vữa nhiều hơn động mạch vành phải. Gây ra cơn đau thắt ngực, thiếu máu cơ tim cục bộ hoặc nhồi máu cơ tim cấp. Các triệu chứng thường gặp: đau thắt ngực, đổ mồ hôi lạnh, chóng mặt, cực kỳ mệt mỏi, tim đập nhanh, khó thở, buồn nôn.
  • Xơ vữa động mạch chủ: Gây phình hoặc phình bóc tác động mạch chủ. Nặng nhất là gây vỡ động mạch chủ dẫn đến tử vong.
  • Xơ vữa động mạch chi dưới: Gây cơn đau cách hồi, nhức, nặng và chuột rút ở chân khi đi bộ hoặc leo cầu thang. Nặng hơn gây hoại tử đầu chi.
Hút thuốc lá là nguyên nhân gây ra bệnh

Những biến chứng của bệnh

Xơ vữa động mạch có thể gây ra các biến chứng một cách đột ngột mà không có dấu hiệu báo trước như nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Hậu quả cuối cùng dẫn đến tàn tật hoặc tử vong.

Nguy cơ các biến chứng của xơ vữa động mạch tăng theo sự phát triển của mảng bám trong động mạch:

  • Tình trạng não: Xơ vữa các động mạch cung cấp máu cho não có thể dẫn đến cơn thiếu máu não thoáng qua TIA hoặc đột quỵ. Mảng bám ở một động mạch khác (như động mạch vành) có thể vỡ ra, hình thành cục máu đông rồi di chuyển lên não, gây ra đột quỵ thiếu máu cục bộ. Lưu lượng máu đến não giảm có thể gây ra các vấn đề nhận thức, gọi là chứng sa sút trí tuệ mạch máu (vascular dementia). Sự suy giảm nhận thức này nằm ngoài quá trình lão hóa thông thường.
  • Các vấn đề về tim: Xơ vữa động mạch có thể gây phình động mạch chủ, rối loạn nhịp tim, đau thắt ngực, suy tim hoặc nhồi máu cơ tim cấp.
  • Tổn thương cơ quan: Sự tích tụ mảng bám có thể cản trở lưu lượng máu đến các cơ quan. Xơ vữa động mạch thận gây ra các tình trạng như bệnh thận mãn tính, suy thận. Nếu thận không thể lọc máu, bắt buộc phải chạy thận hoặc ghép thận. Tình trạng thiếu máu cục bộ mạc treo có thể khiến mô ruột chết hoặc nhiễm trùng nghiêm trọng. Những tổn thương nội tạng này có thể gây tử vong.
  • Các vấn đề về tay chân: Bệnh động mạch ngoại biên (PAD) có thể gây ra tình trạng máu lưu thông kém trong thời gian dài ở cánh tay hoặc chân của bạn. Tình trạng này gây lở loét, nhiễm trùng và hoại tử chi do thiếu máu. Lưu lượng máu đến chân giảm đột ngột (thiếu máu chi cấp tính) là một trường hợp cần cấp cứu y tế với tỷ lệ cắt cụt chi và tử vong cao.
Bệnh gây ra các ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch

Điều trị xơ vữa động mạch

Nguyên nhân gây xơ vữa động mạch chưa rõ ràng. Chính vì vậy cho đến nay vẫn chưa có cách để điều trị khỏi được tình trạng này.  Việc điều trị chỉ giúp làm chậm diễn tiến xơ vữa động mạch, làm chậm quá trình xuất hiện biến chứng và hạn chế các tổn thương do biến chứng gây ra.

Điều trị xơ vữa động mạch bao gồm thay đổi lối sống, sử dụng thuốc và thực hiện các kỹ thuật can thiệp. Tùy vào từng cá nhân và mức độ xơ vữa động mạch mà kết hợp các phương pháp điều trị với nhau.

Thay đổi lối sống

  • Bỏ thuốc lá.
  • Kiêng rượu bia.
  • Có chế độ ăn lành mạnh để giảm cholesterol máu, huyết áp và đường huyết: Tăng cường rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt; hạn chế chất béo bão hòa, muối và đường bổ sung.
  • Tập thể dục thường xuyên: Tập ít nhất 30 phút mỗi ngày với các hoạt động thể chất vừa phải, hoặc 15 phút mỗi ngày với các hoạt động thể chất cường độ cao. Tập ít nhất 5 ngày mỗi tuần.

Sử dụng thuốc

  • Thuốc hạ mỡ máu: Giảm quá trình hình thành mảng xơ vữa.
  • Thuốc giãn mạch: Để bảo vệ thành mạch, ổn định mãng xơ vữa, chống quá trình tái cấu trúc thành động mạch.
  • Thuốc ức chế tập kết tiểu cầu: Để dự phòng nhồi máu cơ tim, nhồi máu não.
  • Thuốc y học cổ truyền

Can thiệp ngoại khoa

  • Đặt stent nong động mạch bị hẹp.
  • Đặt cầu nối bypass (phẫu thuật bắc cầu động mạch vành).
  • Lấy bỏ mảng vữa xơ.
  • Cắt cụt chi hoại tử do thiếu máu.
  • Phẫu thuật điều trị phình bóc tách động mạch chủ.

Quan trọng: Cần điều trị theo đúng chỉ định của bác sĩ. Một số loại thuốc yêu cầu phải dùng hàng ngày, kéo dài thì không được tự ý ngưng sử dụng để tránh các biến chứng của xơ vữa động mạch.

Phòng ngừa bệnh

Phòng ngừa xơ vữa động mạch bằng cách kiểm soát các yếu tố rủi ro để ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình tích tục mảng bám. Cụ thể:

  • Không hút thuốc, tránh khói thuốc thụ động
  • Hạn chế uống nhiều rượu
  • Có chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh
  • Tăng cường tập thể dục
  • Giảm cân nếu bị thừa cân béo phì
  • Học cách quản lý các tình trạng gây căng thẳng trong cuộc sống
  • Ngủ đủ giấc từ 7-9 tiếng mỗi ngày
  • Điều trị tích cực các bệnh mạn tính: Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu…

Người bệnh xơ vữa động mạch cần tuân thủ điều trị của bác sĩ và tái khám theo lịch hẹn để phát hiện sớm bất thường và xử trí kịp thời, phòng nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, tắc mạch máu ngoại biên, bệnh thận mạn…